Michael Ballack: Vị ‘Hoàng đế không ngai’ của bóng đá

17

Michael Ballack đã giành được rất nhiều, nhưng ngoảnh đi ngoảnh lại vẫn còn để lại nhiểu điều nuối tiếc. Ở Đức, người ta gọi anh là unvollendeter, tức một người chưa hoàn thành được mệnh lệnh giao phó.

Michael Ballack sinh ngày 26 tháng 9 năm 1976 tại Gorlitz, một thị trấn nằm ở cực đông nước Đức trong thời kỳ quê hương bị chia cắt làm hai miền Đông – Tây. Khác với đại đa số các cầu thủ thời bấy giờ, Michael Ballack được nuôi dưỡng trong một gia đình có truyền thống chơi bóng chuyên nghiệp cho nên anh cũng sớm thừa hưởng niềm đam mê với trái bóng tròn từ cha mẹ.

Từ nhỏ, Michael Ballack đã mơ ước được trở thành một cầu xuất sắc trong một tập thể hùng mạnh. Năm lên 7 tuổi, Michael Ballack có hội đến câu lạc bộ Chemnitz để tập luyện, và với những phẩm chất đã có sẵn, anh sớm được các huấn luyện viên để mắt đến. Năm 1995, Michael Ballack có bản hợp đồng thi đấu chuyên nghiệp đầu tiên với Chemnitz khi vừa tròn 18 tuổi.

Dù không thể giúp Chemnitzer trụ hạng trong mùa đầu tiên thi đấu chuyên nghiệp, Ballack ghi điểm trong mắt những nhà tuyển trạch. Đến mùa giải 1997/98, Ballack chuyển sang Kaiserslautern của HLV Otto Rehhagel. Chiến lược gia lập dị lập tức nhìn ra sự đặc biệt của Ballack. Ông cho rằng Ballack là cầu thủ mang hình mẫu của bóng đá Đức với khả năng chịu áp lực cao. Ballack nhanh chóng trở thành nhân tố chủ chốt trong đội hình Kaiserslautern lập nên thành tích vô tiền khoáng hậu, họ vô địch Bundesliga ngay trong mùa giải đầu tiên lên hạng.

Một năm sau khi cùng Kaiserslautern giành được “Đĩa Bạc” năm 1998, Michael chuyển đến Leverkusen, nơi mà anh đạt được những bước tiến lớn trong sự nghiệp thi đấu đỉnh cao. Trong 3 mùa giải chơi cho đội bóng này, Michael Ballack chơi 79 trận, ghi 27 bàn. Bên cạnh sự trưởng thành về tư duy chơi bóng, Michael Ballack ở độ tuổi 22 cũng sớm nếm vị ‘đời’ mà số phận dành riêng cho anh. Tưởng như quyết định chuyển đến Leverkusen sẽ mở ra giai đoạn thành công cho Ballack, nhưng ít ai ngờ đây lại là thời điểm khởi đầu cho những thăng trầm trong sự nghiệp của anh.

Bayer Leverkusen đánh mất chiếc đĩa bạc Bundesliga 1999/2000 trong trận đấu cuối cùng của mùa giải sau quả đá phản lưới nhà tai hại của chính Ballack. Mặc dù vậy, đội bóng này nhanh chóng trở lại mạnh mẽ, để rồi họ tạo nên mùa giải 2001/02 khó quên nhất trong lịch sử. Tại đây thì anh khởi đầu cho một sự nghiệp mà ai ai cũng biết – cú ăn ba… về nhì mùa 2001-02. Mùa ấy, Ballack ghi 23 bàn – con số kỷ lục trong sự nghiệp của anh, nhưng vẫn không thể một mình gánh đội.

Mùa giải 2001-02, Leverkusen hạ màn với vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng, để tuột mất danh hiệu vô địch Bundesliga khi thua Borussia Dortmund đúng 1 điểm. Một tuần sau, Ballack tiếp tục trở thành trò đùa của số phận khi phải nhận lấy thất bại cay đắng trước Schalke tại chung kết cúp Quốc gia Đức.

15/5/2002, sân Hampden Park, Scotland, diễn ra trận chung kết Champions League giữa Bayer Leverkusen và Real Madrid. Phút thứ 45, Zinedine Zidane ghi bàn bằng một cú vô-lê ngoài vòng cấm. Bàn thắng đó trở thành bất tử trong lịch sử bóng đá. Nhưng ít ai nhận ra Zidane đã thực hiện cú đá ấy ngay trước mặt cầu thủ hay nhất bên phía Bayer: Michael Ballack. Hình ảnh hôm ấy giống như một định mệnh, gán vào đó cả sự nghiệp mênh mông và trái ngược của hai cầu thủ này. Zidane toàn bích, có tất cả danh hiệu từ cá nhân đến tập thể. Còn Ballack luôn đứng trước ngưỡng vinh quang, lặng nhìn đối thủ chiến thắng, còn anh ôm trọn bi kịch.

Ở World Cup 2002, Đức vào cuộc với vị thế một đội bóng đầy bất ổn. Thủ lĩnh tinh thần là Oliver Kahn huyền thoại, nhưng thủ lĩnh chuyên môn đích thực của họ phải là Michael Ballack. Anh trở thành chân kiến tạo xuất sắc nhất Die Mannschaft tại giải đấu này và đến nay, hầu hết mọi người đều đồng nhận định rằng anh đã “một mình gánh đội”. Trận chung kết, Ballack bị treo giò oan nghiệt và Đức dễ dàng thua trước một Brazil huyền thoại.

Trong khoảng thời gian thi đấu cho Leverkusen, Michael Ballack chơi 107 trận, ghi được 38 bàn thắng. Được bầu chọn là “Cầu thủ xuất sắc nhất năm” năm 2002 và giành luôn danh hiệu “Tiền vệ xuất sắc nhất Champion League” trong cùng năm đó. Nhận thấy sự xuất chúng của Michael Ballack, Bayern Munich quyết định chi ra số tiền 13 triệu Euro để đem tài năng 26 tuổi về Allienz Arena. Trước đó, anh từ chối Real Madrid. Ballack ký vào bản hợp đồng 4 năm, mở ra một thời kỳ huy hoàng nhất trong sự nghiệp cá nhân. Mỗi trận Ballack ra sân là một lần hàng thủ đối phương run rẩy. Thi đấu ở vị trí tiền vệ công, anh làm mọi thứ: lĩnh xướng, điều phối, kiến tạo, ghi bàn. Bayern giành 3 chức vô địch Bundesliga và 3 DFB-Pokal. Ballack như giải hạn. Cơn khát danh hiệu của anh được đáp lại bằng một cơn mưa.

Nhưng những thành công của anh ở xứ Bavaria bị che lấp phần nào bởi mâu thuẫn với bộ ba quyền lực Uli Hoeness, Karl-Heinz Rummenigge và Franz Beckenbauer. Tất cả cũng chỉ vì tính cách quá mạnh mẽ của Ballack. Tư chất thủ lĩnh của anh bị hiểu nhầm là tính gia trưởng, sự mạnh mẽ trong con người anh bị coi là quá cộc cằn. Thế nhưng đầu hàng là điều không có trong từ điển của một con người đã ngấm sâu chất Đức trong từng đường gân thớ thịt.

Bỏ lại những vinh quang và tủi nhục trên đất Đức, chàng tiền vệ số 13 tìm tới London với một màu xanh hy vọng. Michael Ballack trong màu áo của Chelsea ngay lập tức giành được cú đúp … về nhì tại Primier League vào mùa giải 2006-07 và 2007-08. Niềm an ủi lớn nhất mà anh có được trong khoảng thời gian đó là chiếc League Cup và FA Cup vào năm 2007 cùng đội bóng. Mùa giải 2007-08 là một kỷ niệm khó quên trong sự nghiệp của Michael Ballack khi anh liên tiếp để tuột khỏi tầm tay những danh hiệu cao quý.

Sau thất bạị trước Tottenham trong trận chung kết League Cup, Michael Ballack cùng Chelsea lọt vào trận chung kết toàn Anh đầu tiên của lịch sử giải đấu Champion League gặp Manchester United. Sau khi Cristiano Ronaldo sút hỏng quả luân lưu, Chelsea đã có thể mơ về vị trí quán quân. Tuy nhiên, đúng với sựảm đạmcủacơn mưa trên sân Luzhniki năm đó, Michael Ballack đành ngậm ngùi với thất bại khi John Terry đã trực tiếp ‘đá bay’ luôn chiếc cúp vô địch C1 trên chấm 11m.

Năm 2009, Chelsea kết thúc mùa giải bằng một chiếc cúp FA. Một năm sau,dưới sự dẫn dắt của Carlo Ancelotti, The Blues trở nên bùng nổ với những cá nhân như Didier Drogba, Fernando Torres và Frank Lampard, giúp Chelsea có được cú đúp danh hiệu Premier League lẫn FA Cup. Michael Ballack cuối cùng đã vô địch giải ngoại hạng cùng đội chủ sân Stamford Bridge trước khi quay trở về Leverkusen.

Franz Beckenbauer từng nói: Michael Ballack là nhà lãnh đạo, đội trưởng thực thực thụ, người đàn ông đáng tin cậy, luôn biết cách giải quyết mọi tình huống”. Ballack tuy không phải cầu thủ thành công nhất, nhưng với người Đức, anh là người giỏi nhất trong một thời đại và là người cuối cùng của thời đại đó.

Trở về Leverkusen năm 2010, Ballack lần đầu tiên rơi vào tình trạng phải làm cầu thủ dự bị – xoay vòng. Anh không chấp nhận. Leverkusen lại về nhì ngay năm đầu tiên Ballack trở lại, nhưng lần này không có sự tiếc nuối nào được anh thể hiện. Anh ngày càng trở nên cộc cằn với mọi thứ. Sự nghiệp của anh xuống dốc nhanh chóng. Được HLV Loew dành cho một trận đấu để tôn vinh cũng như tạo điều kiện cho anh cán mốc 100 trận, anh từ chối vì cho rằng đó là một “trò hề”.

Số “người về nhì” theo ‘ám’ Michael Ballack không chỉ ở cấp câu lạc bộ mà còn ở tuyển quốc gia. Michael Ballack thi đấu cho Die Mannschaft từ năm 1999 và World Cup 2002 trên đất Hàn là giải đấu cấp độ thế giới đầu tiên mà anh tham dự.

Ngay từ khởi đầu, Ballack đã không hạnh phúc. Rồi anh mang hành trang ấy đến World Cup 2002, cùng đội tuyển Đức vừa chia tay cả một thế hệ vàng. Vậy nhưng, với Ballack thi đấu bùng nổ, “Die Mannschaft” đã tiến thẳng đến trận chung kết. Chính anh là người ghi bàn quyết định giúp Đức đánh bại đội chủ nhà Hàn Quốc trong trận bán kết. Và cũng chính anh hy sinh tấm vé dự trận chung kết khi lao tới cản phá cơ hội ghi bàn của Hàn Quốc. Người thủ lĩnh ấy, hơn 10 năm sau pha bóng đau đớn vẫn trả lời rằng: “Nếu thời gian quay trở lại và cho tôi lựa chọn, tôi vẫn sẽ xoạc quả bóng ấy mà thôi.” Sẵn sàng chấp nhận thương đau vì toàn cục, Ballack là một người đàn ông Đức hảo hạng.

Không khó hiểu khi anh nhanh chóng trở thành thủ lĩnh của “Cỗ xe tăng” Đức, kế thừa vai trò của những Matthaus, Sammer, Effenberg, Kahn… nhưng số phận đã đặt cả lên vai anh một sa mạc nước Đức cạn khô nhân tài, để bắt anh gách vác. Ballack đã ở đội tuyển Đức khi Jurgen Klinsmann, Oliver Bierhoff … vừa chia tay. Anh đã dìu dắt đội tuyển Đức khi Philipp Lahm và Bastian Schweinsteiger là hai cầu thủ non trẻ, còn Mario Gotze mới chỉ 10 tuổi. Vậy mà chàng trai đó vẫn đủ sức kéo đoàn quân không ngôi sao ấy vào đến hai trận chung kết (World Cup 2002, Euro 2008) và giành huy chương đồng ở World Cup 2006. Nước Đức những năm tháng mà Ballack làm thủ lĩnh, chỉ có mình anh ở đẳng cấp hàng đầu thế giới, còn các đồng đội đều bình thường. Vậy mà anh làm được những điều phi thường ấy.

Ballack có thừa tài năng, rất nhiều bản lĩnh. Anh chơi tốt cả hai chân, đánh đầu cũng rất giỏi, đa năng ở các vị trí tiền vệ, kiến tạo tốt, đánh chặn cũng hay, có thể dẫn dắt thế trận, và sở hữu một lối chơi mạnh mẽ. Đặc biệt Ballack gói trọn được tinh thần thép của người Đức. Những cú đá phạt sấm sét, những lần bước lên chấm 11m vẫn sắc lạnh như dao. Tài năng là vậy, nhưng số phận thì rất bất công với Ballack. Anh ngã xuống, lại đứng dậy, lại đâm đầu vào một cuộc phiêu lưu mới, rồi lại ngã xuống, bi kịch nối tiếp bi kịch, vẫn không đánh gục được chàng trai này.

Ngày chia tay, anh nói rằng “Đương nhiên những danh hiệu sẽ được đánh giá cao. Nhưng tôi hy vọng mọi người sẽ nhớ tới tôi như một cầu thủ đặc biệt.” Ballack không sai chút nào, người hâm mộ nhớ rất nhiều về anh, chàng trai mang đậm vẻ đẹp Đức, tính cách Đức cổ điển, nụ cười hồn hậu khi có vinh quang nhưng bị che phủ bởi bao nhiêu là thất bại trước ngưỡng cửa thiên đường.

The post Michael Ballack: Vị ‘Hoàng đế không ngai’ của bóng đá appeared first on Trước Trận.